TrungTamHopTac.comTrung Tâm Hợp Tác
Các hình thức hợp tác kinh doanh

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) là gì: cơ chế, ưu nhược và khi nào nên chọn

BCC là hình thức hợp tác không lập pháp nhân: tài sản, lợi nhuận, thuế và quyền quyết định đều do hợp đồng quy định. Cơ chế vận hành, ưu nhược và tình huống nên dùng.

Over-the-shoulder view of two managers walking through a half-built coffee roasting workshop in the Central Highlands, steel machinery and burlap sacks, dusty afternoon light, earthy brown and green palette

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract, viết tắt BCC) là thoả thuận giữa các nhà đầu tư để cùng kinh doanh, phân chia lợi nhuận hoặc sản phẩm, mà không thành lập tổ chức kinh tế (pháp nhân) mới. Mỗi bên vẫn là doanh nghiệp độc lập; dự án chung tồn tại trên giấy hợp đồng, không có con dấu, tài khoản hay vốn điều lệ riêng.

Ở Việt Nam, BCC được Luật Đầu tư ghi nhận là một hình thức đầu tư. BCC giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo pháp luật dân sự; BCC có nhà đầu tư nước ngoài tham gia thì thường phải làm thủ tục đăng ký đầu tư theo quy định hiện hành. BCC hợp khi dự án có thời hạn rõ, các bên muốn chia lợi ích nhưng chưa muốn gắn chặt bằng một công ty chung; nó kém hợp khi dự án cần tài sản lớn đứng tên chung, cần vay vốn ngân hàng hay cần thuê nhiều nhân sự riêng.

Bài này giải thích cơ chế vận hành của BCC, các kiểu chia lợi ích, những điểm yếu cấu trúc mà hợp đồng phải bù, và cách quyết định giữa BCC với lập công ty liên doanh. Phần soạn từng điều khoản chi tiết nằm ở chuyên mục hợp đồng hợp tác.

Cơ chế cốt lõi: hợp tác không có pháp nhân nghĩa là gì

Điểm phân biệt BCC với liên doanh là không có chủ thể pháp lý mới. Khi hai công ty lập liên doanh, công ty mới đứng tên tài sản, ký hợp đồng với khách hàng, thuê lao động, vay tiền và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của nó. Trong BCC, không có ai như vậy. Mọi giao dịch với bên ngoài phải do một trong các bên đứng ra ký, và bên ký là bên chịu trách nhiệm trước đối tác bên ngoài.

Hệ quả thực tế là hợp đồng BCC phải gánh những việc mà luật doanh nghiệp và điều lệ công ty thường lo sẵn. Cần ghi rõ ai là bên đại diện ký hợp đồng mua bán, ai xuất hoá đơn, tài sản mua cho dự án đứng tên ai, ai hạch toán doanh thu chi phí và kê khai thuế, và nếu dự án lỗ hoặc bị kiện thì phần nghĩa vụ chia thế nào giữa các bên.

Thay cho hội đồng quản trị, các bên thường lập một ban điều phối gồm đại diện mỗi bên để quyết định các vấn đề chung. Ban điều phối không có tư cách pháp nhân; nó chỉ là cơ chế ra quyết định nội bộ do hợp đồng tạo ra. Quyền hạn, cách biểu quyết và cách xử lý khi ban điều phối bế tắc phải được viết trong hợp đồng, nếu không, mọi bất đồng đều phải đi tới thương lượng lại hoặc tranh chấp.

Ba kiểu chia lợi ích trong BCC

Cách chia lợi ích quyết định phần lớn cách hạch toán, kê khai thuế và mức rủi ro mỗi bên gánh. Ba kiểu dưới đây là khung thường gặp; cách xử lý thuế cụ thể phải kiểm theo quy định hiện hành và nên hỏi kế toán, tư vấn thuế.

Kiểu chiaCách vận hànhRủi ro lỗVí dụ giả định
Chia doanh thuDoanh thu dự án chia theo tỷ lệ trước khi trừ chi phí; mỗi bên tự lo chi phí phần mìnhMỗi bên tự chịu chi phí, bên chi nhiều chịu rủi ro hơnChủ mặt bằng và đơn vị vận hành nhà hàng chia doanh thu
Chia lợi nhuậnGộp doanh thu và chi phí dự án, lãi hoặc lỗ chia theo tỷ lệ thoả thuậnCác bên cùng chịu theo tỷ lệHai công ty cùng khai thác một dự án du lịch sinh thái
Chia sản phẩmSản phẩm làm ra được chia hiện vật, mỗi bên tự bán phần mìnhRủi ro giá bán do từng bên gánhHợp tác trồng và sơ chế nông sản, chia sản lượng theo tỷ lệ

Chia doanh thu dễ theo dõi nhất vì chỉ cần kiểm doanh thu, nhưng tạo động cơ lệch: bên hưởng doanh thu không quan tâm chi phí. Chia lợi nhuận công bằng hơn về rủi ro nhưng đòi hai bên tin vào sổ sách của bên hạch toán, nên cần quyền kiểm tra sổ sách và kiểm toán định kỳ. Chia sản phẩm hợp với hàng đồng nhất, dễ chia, nhưng hai bên có thể thành đối thủ khi bán ra cùng thị trường.

Ưu điểm thật của BCC

Nhanh và linh hoạt về cấu trúc. Không phải đăng ký thành lập doanh nghiệp, không phải góp vốn điều lệ, không có bộ máy kế toán riêng. Các bên tự do thoả thuận tỷ lệ chia, cách quyết định, thời hạn, miễn không trái luật. Với dự án vài năm, chi phí tiết kiệm được là đáng kể.

Rút lui gọn hơn liên doanh. Khi hợp đồng hết hạn hoặc chấm dứt theo điều kiện đã thoả thuận, các bên thanh lý hợp đồng, chia tài sản và quyết toán, không phải giải thể một công ty. Đây là lý do BCC hay được dùng cho dự án có điểm kết rõ.

Giữ nguyên tài sản và thương hiệu của từng bên. Mỗi bên đóng góp quyền sử dụng tài sản (mặt bằng, máy móc, quyền khai thác) mà không phải chuyển quyền sở hữu sang một công ty mới. Với tài sản có giá trị lớn như quyền sử dụng đất, điều này tránh được thủ tục chuyển nhượng và các nghĩa vụ đi kèm.

Thử nghiệm trước khi gắn kết sâu. BCC là bước đệm tốt để hai doanh nghiệp làm việc chung, kiểm chứng số liệu và văn hoá làm việc của nhau, trước khi quyết định có lập liên doanh hay không.

Điểm yếu cấu trúc mà hợp đồng phải bù

Bên đại diện gánh rủi ro với bên thứ ba. Vì chỉ một bên ký với khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng, bên đó chịu trách nhiệm pháp lý trực tiếp. Hợp đồng BCC phải có cơ chế để bên kia hoàn trả phần nghĩa vụ tương ứng, kèm bảo đảm nếu cần.

Thông tin bất cân xứng. Bên hạch toán nắm sổ sách, bên kia chỉ thấy báo cáo. Đây là nguồn tranh chấp phổ biến nhất. Cần quyền truy cập chứng từ, tài khoản ngân hàng riêng cho dự án nếu có thể, báo cáo định kỳ theo mẫu thống nhất và quyền thuê kiểm toán độc lập.

Khó huy động vốn bên ngoài. Ngân hàng cho vay doanh nghiệp, không cho vay một hợp đồng. Dự án BCC cần vốn lớn thường phải vay qua một bên, khiến bên đó gánh nợ trên bảng cân đối của mình.

Tài sản hình thành trong quá trình hợp tác. Máy móc mua thêm, công trình xây mới, thương hiệu chung, dữ liệu khách hàng: nếu không ghi rõ thuộc ai và xử lý ra sao khi chấm dứt, đây là thứ hai bên tranh nhau nhiều nhất lúc chia tay.

BCC hay lập công ty liên doanh: bảng quyết định

Dùng bảng này như danh mục kiểm tra. Càng nhiều dòng rơi vào cột phải, càng nên cân nhắc lập công ty chung thay vì BCC.

Tiêu chíNghiêng về BCCNghiêng về liên doanh
Thời hạn dự ánCó điểm kết rõ, vài nămKhông hẹn ngày kết thúc
Tài sản cần cho dự ánDùng tài sản sẵn có của các bênPhải mua, xây tài sản lớn đứng tên chung
Nhu cầu vay vốnThấp hoặc một bên tự loCần vay lớn bằng tư cách dự án
Nhân sựBiệt phái từ các bênCần đội ngũ riêng, ổn định
Thương hiệu với khách hàngBán dưới thương hiệu một bênCần thương hiệu và pháp nhân độc lập
Mức tin cậy giữa các bênĐã làm việc chung, tin sổ sách của nhauCần quản trị chính thức, kiểm toán bắt buộc

Một số doanh nghiệp đi theo lộ trình hai bước: ký BCC có điều khoản cho phép chuyển thành liên doanh khi đạt doanh thu hoặc thời gian đã thoả thuận, kèm cách định giá tài sản đóng góp lúc chuyển đổi. Cách này giữ được sự linh hoạt mà không phải đàm phán lại từ đầu.

Ví dụ giả định: so sánh chia doanh thu và chia lợi nhuận trên cùng một dự án

Ví dụ giả định, số liệu chỉ để minh hoạ. Công ty A có một khu đất ven biển ở Khánh Hoà, công ty B có kinh nghiệm vận hành khu nghỉ dưỡng nhỏ. Hai bên ký BCC năm năm: A đóng góp quyền khai thác mặt bằng, B bỏ tiền cải tạo và vận hành. Năm đầu, doanh thu dự án 10 tỷ đồng, chi phí vận hành 7 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 3 tỷ đồng.

Phương án chia doanh thu 20% cho A: A nhận 2 tỷ đồng bất kể chi phí, B nhận 8 tỷ đồng và tự gánh 7 tỷ chi phí, còn 1 tỷ. Phương án chia lợi nhuận 50:50: mỗi bên nhận 1,5 tỷ đồng. Nhìn một năm, phương án chia doanh thu có lợi cho A. Nhưng giả sử năm thứ hai doanh thu giảm còn 8 tỷ đồng, chi phí vẫn 7 tỷ: chia doanh thu thì A nhận 1,6 tỷ, B lỗ 0,6 tỷ; chia lợi nhuận thì mỗi bên nhận 0,5 tỷ.

Bài học không nằm ở con số mà ở động cơ. Chia doanh thu khiến A chỉ quan tâm doanh thu, có thể đòi tăng giá phòng hay mở thêm dịch vụ bất kể chi phí; B gánh toàn bộ rủi ro vận hành và dễ muốn thoát khi doanh thu chững lại. Chia lợi nhuận gắn hai bên vào cùng một kết quả, nhưng A phải tin vào sổ chi phí do B giữ. Nhiều BCC dùng cơ cấu lai: một khoản cố định nhỏ cho bên góp tài sản, cộng một tỷ lệ lợi nhuận vượt ngưỡng, kèm quyền kiểm tra sổ sách. Trước khi chốt tỷ lệ, nên chạy ít nhất ba kịch bản tốt, trung bình, xấu như trên để thấy mỗi bên gánh gì.

BCC có nhà đầu tư nước ngoài: những điểm phải kiểm

Khi một bên là nhà đầu tư nước ngoài, BCC không còn là giao dịch dân sự thuần. Theo Luật Đầu tư hiện hành, BCC giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài, thường phải làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài trong BCC cũng có thể phải lập văn phòng điều hành tại Việt Nam để thực hiện hợp đồng. Cần kiểm văn bản hiện hành và hướng dẫn của cơ quan đăng ký đầu tư địa phương trước khi ký.

Ngoài thủ tục, có ba điểm thường bị bỏ sót. Thứ nhất, ngành nghề của dự án có điều kiện tiếp cận thị trường với nhà đầu tư nước ngoài hay không; BCC không phải đường vòng để vào ngành bị hạn chế. Thứ hai, dòng tiền chuyển ra nước ngoài (lợi nhuận được chia) phải đi qua tài khoản và thủ tục ngoại hối theo quy định. Thứ ba, luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp: với BCC có yếu tố nước ngoài, các bên thường chọn trọng tài thương mại, nhưng một số vấn đề liên quan tới tài sản tại Việt Nam vẫn chịu pháp luật Việt Nam.

Ở cấp quản trị, BCC xuyên biên giới khó hơn BCC trong nước vì khác biệt chuẩn mực kế toán, ngôn ngữ hợp đồng và kỳ vọng về báo cáo. Nên thống nhất ngay từ đầu chuẩn mực hạch toán dự án, ngôn ngữ bản hợp đồng có giá trị ưu tiên và lịch họp ban điều phối.

Câu hỏi thường gặp

BCC có phải nộp thuế riêng như một doanh nghiệp không?

BCC không phải pháp nhân nên không tự là người nộp thuế như công ty. Thường các bên chọn một bên đại diện kê khai, hoặc mỗi bên tự kê khai phần lợi ích của mình, tuỳ kiểu chia và quy định hiện hành. Cách làm cụ thể cần hỏi tư vấn thuế và kiểm văn bản mới nhất.

Có thể góp quyền sử dụng đất vào BCC không?

Các bên có thể đưa quyền sử dụng mặt bằng hoặc đất vào dự án BCC như phần đóng góp, thường dưới dạng cho dự án được khai thác mà không chuyển quyền sở hữu. Điều kiện cụ thể về đất đai rất chặt và thay đổi, nên cần kiểm luật đất đai hiện hành và hỏi luật sư.

BCC kéo dài tối đa bao lâu?

Thời hạn do các bên thoả thuận, nhưng với BCC có nhà đầu tư nước ngoài thì thường gắn với thời hạn hoạt động của dự án ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Nên ghi rõ điều kiện gia hạn và quy trình thanh lý khi hết hạn.

Khi một bên muốn rút khỏi BCC giữa chừng thì sao?

Phụ thuộc điều khoản chấm dứt. Hợp đồng tốt quy định các trường hợp được đơn phương chấm dứt, thời gian báo trước, cách định giá phần đóng góp và quyền ưu tiên nhận lại của bên còn lại. Thiếu các điều này, việc rút giữa chừng thường thành tranh chấp kéo dài.

BCC có được dùng tên chung để bán hàng không?

Vì không có pháp nhân, BCC không tự đăng ký kinh doanh dưới một tên riêng. Các bên có thể dùng một nhãn hiệu chung cho sản phẩm, nhưng nhãn hiệu đó phải do một bên hoặc các bên đồng sở hữu đăng ký, và hoá đơn vẫn do bên đại diện xuất.

Ai chịu trách nhiệm khi dự án BCC gây thiệt hại cho bên thứ ba?

Trước bên thứ ba, bên trực tiếp ký hợp đồng hoặc gây ra thiệt hại thường chịu trách nhiệm trước. Giữa các bên với nhau, hợp đồng BCC phân chia lại theo tỷ lệ hoặc theo lỗi. Vì vậy điều khoản bồi hoàn và bảo hiểm trách nhiệm là phần không nên bỏ qua.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.