Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (hợp đồng ngoại thương) là thoả thuận giữa người bán và người mua có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau. Một hợp đồng đủ dùng phải trả lời được: bán hàng gì, chất lượng kiểm bằng cách nào, bao nhiêu, giá và thanh toán ra sao, giao hàng theo điều kiện nào, khiếu nại thế nào, khi có sự kiện bất khả kháng thì sao, luật nào điều chỉnh và tranh chấp giải quyết ở đâu.
Từ ngày 1/1/2017, Việt Nam là thành viên Công ước Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (CISG, ký tại Viên năm 1980). Điều đó có nghĩa: hợp đồng giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp ở một nước thành viên khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc hay phần lớn các nước EU mặc nhiên chịu điều chỉnh của CISG, trừ khi hai bên loại trừ rõ ràng. Nhiều doanh nghiệp ký hàng chục hợp đồng mỗi năm mà không biết điều này.
Bài này không thay ý kiến luật sư cho một giao dịch cụ thể; nó cung cấp khung để đọc, soạn và rà một hợp đồng ngoại thương, kèm những điểm khác biệt giữa CISG và thói quen soạn hợp đồng trong nước.
Mười điều khoản cốt lõi và câu hỏi mỗi điều khoản phải trả lời
Các mẫu hợp đồng ngoại thương thường có từ 10 đến 15 điều. Bảng dưới gom về những điều khoản quyết định kết quả khi có tranh chấp, kèm lỗi soạn thảo hay gặp nhất ở mỗi điều.
| Điều khoản | Phải trả lời | Lỗi hay gặp |
|---|---|---|
| Tên hàng | Hàng gì, mã HS, xuất xứ | tên thương mại chung chung, không khớp chứng từ hải quan |
| Chất lượng, quy cách | Tiêu chuẩn nào, mẫu nào, ai giám định, ở đâu, khi nào | chỉ ghi "chất lượng tốt", không nói phương pháp kiểm |
| Số lượng | Đơn vị đo, dung sai cho phép | không có dung sai với hàng rời, hàng nông sản |
| Giá | Đơn giá, đồng tiền, điều kiện giao hàng kèm theo | ghi giá mà không gắn với Incoterms |
| Thanh toán | Phương thức, thời hạn, chứng từ xuất trình | không quy định chứng từ cụ thể, không nói phí ngân hàng ai chịu |
| Giao hàng | Incoterms, địa điểm, thời hạn, giao từng phần, chuyển tải | thời hạn kiểu "càng sớm càng tốt" |
| Đóng gói, ký mã hiệu | Quy cách bao bì, yêu cầu của nước nhập | bỏ trống, rồi tranh chấp khi hàng ẩm, vỡ |
| Khiếu nại, bảo hành | Thời hạn thông báo, chứng cứ, cách xử lý | không có thời hạn, không nói ai giám định |
| Bất khả kháng, khó khăn | Sự kiện nào, thông báo thế nào, hậu quả | chép mẫu chung, không có thủ tục thông báo |
| Luật áp dụng và tranh chấp | Luật nước nào, trọng tài hay toà án, ở đâu | chọn "luật quốc tế" chung chung, hoặc bỏ trống |
Hai điều khoản cuối thường bị coi là thủ tục và để tới phút chót, nhưng chính chúng quyết định doanh nghiệp có đòi được tiền hay không. Một phán quyết thắng kiện mà không thi hành được ở nước đối tác cũng gần như không có giá trị.
CISG áp dụng khi nào và nó thay đổi điều gì
CISG áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước thành viên khác nhau, hoặc khi quy tắc tư pháp quốc tế dẫn tới luật của một nước thành viên. Công ước không áp dụng cho hàng mua để tiêu dùng cá nhân, mua bán qua đấu giá, chứng khoán, tàu thuyền, máy bay và điện năng, cũng như hợp đồng mà phần chính là cung cấp dịch vụ hay lao động. Một số đối tác lớn như Anh hay Ấn Độ không phải là thành viên, nên hợp đồng với họ không tự động thuộc CISG.
Theo CISG, hai bên được phép loại trừ toàn bộ công ước hoặc thay đổi các điều khoản của nó. Nhưng loại trừ phải rõ ràng. Viết "hợp đồng này chịu điều chỉnh bởi luật Việt Nam" là chưa đủ an toàn, vì CISG đã là một phần của luật Việt Nam khi Việt Nam gia nhập; nhiều toà án và trọng tài sẽ hiểu điều khoản đó là chọn CISG cộng luật Việt Nam bổ sung. Muốn loại trừ, phải ghi thẳng "không áp dụng Công ước Viên 1980".
Có nên loại trừ không? Không có đáp án chung. CISG có ưu điểm là trung lập, được dịch ra nhiều ngôn ngữ và có kho án lệ, bình luận quốc tế lớn, nên hai bên khác hệ thống pháp luật dễ chấp nhận. Nhược điểm là một số quy định khác thói quen của doanh nghiệp Việt Nam, như phần dưới trình bày. Quyết định tốt là quyết định có ý thức, sau khi đã đọc các điểm khác biệt, chứ không phải im lặng rồi bị áp dụng mà không biết.
Năm điểm của CISG mà doanh nghiệp Việt Nam hay bất ngờ
Hình thức hợp đồng. Bản thân CISG không đòi hợp đồng phải bằng văn bản. Tuy vậy Việt Nam đã đưa ra bảo lưu về yêu cầu hình thức khi gia nhập, và luật thương mại Việt Nam đòi hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế bằng văn bản hoặc hình thức có giá trị tương đương như thư điện tử. Thực tế an toàn nhất: mọi thoả thuận và sửa đổi đều có văn bản xác nhận.
Chào hàng và chấp nhận có sửa đổi. Theo CISG, một trả lời chấp nhận nhưng có thêm hoặc sửa đổi các yếu tố cơ bản như giá, chất lượng, số lượng, địa điểm giao hàng hay giải quyết tranh chấp là một hoàn giá, tức một chào hàng mới, chứ chưa phải chấp nhận. Doanh nghiệp tưởng hợp đồng đã hình thành khi đối tác "đồng ý nhưng xin sửa thời hạn giao hàng" là đang hiểu sai.
Vi phạm cơ bản và quyền huỷ hợp đồng. Người mua chỉ được tuyên bố huỷ hợp đồng khi vi phạm là cơ bản, tức làm bên kia bị thiệt hại đến mức mất cơ bản cái họ có quyền chờ đợi từ hợp đồng, hoặc khi đã gia hạn thêm mà bên kia vẫn không thực hiện. Hàng hơi lệch quy cách nhưng vẫn dùng được thường chỉ cho quyền giảm giá hoặc đòi bồi thường, không cho quyền trả hàng.
Nghĩa vụ kiểm tra và thông báo khuyết tật. Người mua phải kiểm tra hàng trong thời hạn ngắn nhất có thể và thông báo khuyết tật trong một thời hạn hợp lý, nêu rõ bản chất khuyết tật; chậm nhất trong vòng hai năm kể từ khi nhận hàng, trừ khi hợp đồng có thời hạn bảo hành khác. Thông báo chung chung kiểu "hàng có vấn đề" có thể làm mất quyền khiếu nại.
Miễn trách khi có trở ngại. CISG không dùng khái niệm "bất khả kháng" theo nghĩa liệt kê sự kiện, mà miễn trách cho bên vi phạm nếu chứng minh được trở ngại nằm ngoài khả năng kiểm soát, không thể dự liệu hợp lý khi ký hợp đồng và không thể tránh hay khắc phục. Ngưỡng này cao; tăng giá nguyên liệu thông thường hầu như không đủ.
Điều khoản chất lượng và khiếu nại: nơi phần lớn tranh chấp bắt đầu
Phần lớn tranh chấp trong mua bán quốc tế mà các trung tâm trọng tài thụ lý không xoay quanh giá, mà xoay quanh câu hỏi hàng có đúng chất lượng hay không. Một điều khoản chất lượng tốt phải trả lời ba việc: chuẩn để so sánh (tiêu chuẩn quốc gia hay quốc tế cụ thể, bản mô tả kỹ thuật đính kèm, hoặc mẫu đã niêm phong có chữ ký hai bên), người kiểm (một tổ chức giám định độc lập được hai bên chấp nhận, hay phòng thí nghiệm của bên nào) và thời điểm, địa điểm kiểm (tại nhà máy trước khi xếp hàng, tại cảng đi, hay tại kho người mua).
Với hàng nông sản và thực phẩm xuất sang thị trường khó tính, chất lượng lúc rời cảng Việt Nam và lúc tới nơi có thể khác nhau do độ ẩm, nhiệt độ trong container. Vì thế hợp đồng cần nói rõ kết quả giám định ở đâu là kết quả cuối cùng. Nếu giám định tại cảng đi là cuối cùng, rủi ro biến đổi trên đường thuộc người mua, phù hợp với logic chuyển rủi ro của FOB hay CIF. Nếu giám định tại nơi đến là cuối cùng, người bán gánh thêm rủi ro đó và nên tính vào giá.
Điều khoản khiếu nại nên ghi thời hạn khiếu nại cụ thể tính từ ngày dỡ hàng, chứng cứ bắt buộc (biên bản giám định, ảnh, mẫu lưu), và các cách xử lý theo thứ tự: giao bù, sửa chữa, giảm giá, rồi mới tới trả hàng. Một thời hạn ngắn và rõ thường có lợi cho người bán, nhưng phải đủ để người mua thực sự kiểm được hàng, nếu không trọng tài có thể không chấp nhận.
Chọn luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp
Điều khoản luật áp dụng trả lời câu hỏi: những gì hợp đồng không quy định thì lấy luật nước nào để lấp. Bên nào cũng muốn luật nước mình, vì quen thuộc và luật sư của mình hiểu rõ. Các phương án trung gian thường gặp: chọn CISG làm luật chính và luật một nước thứ ba có truyền thống thương mại, hoặc chọn Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế để bổ sung. Tránh viết "theo luật quốc tế" chung chung, vì không có một bộ "luật quốc tế" duy nhất điều chỉnh hợp đồng.
Về cơ quan giải quyết, trọng tài thương mại thường được ưu tiên trong giao dịch quốc tế vì phán quyết trọng tài được công nhận và thi hành tại hơn 170 nước thành viên Công ước New York 1958, trong khi bản án của toà án một nước thường khó được thi hành ở nước khác nếu không có hiệp định tương trợ tư pháp. Việt Nam là thành viên Công ước New York từ năm 1995.
Một điều khoản trọng tài tối thiểu phải nêu: tổ chức trọng tài hoặc quy tắc trọng tài vụ việc, địa điểm trọng tài, ngôn ngữ, số trọng tài viên. Điều khoản kiểu "tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài hoặc toà án" là điều khoản lỗi, có thể bị tuyên vô hiệu và kéo dài tranh chấp thêm nhiều tháng chỉ để xác định ai có thẩm quyền.
Danh mục rà soát trước khi ký
Trước khi ký một hợp đồng ngoại thương, kể cả với đối tác quen, có thể đi qua danh mục sau trong khoảng nửa giờ:
- Đối chiếu tên pháp lý, địa chỉ, người ký và thẩm quyền ký của đối tác với thông tin đăng ký công khai của nước họ.
- Kiểm tra tên hàng, mã HS và mô tả có khớp với chứng từ sẽ dùng cho hải quan, thư tín dụng và bảo hiểm hay không.
- Xác định CISG có áp dụng không; nếu muốn loại trừ thì đã ghi rõ chưa.
- Đọc lại điều khoản chất lượng: chuẩn so sánh, người giám định, thời điểm và kết quả cuối cùng.
- Đọc lại điều khoản thanh toán cùng với điều kiện giao hàng: chứng từ người bán phải có, có lấy được đúng hạn không.
- Kiểm tra điều khoản khiếu nại có thời hạn và quy trình cụ thể.
- Kiểm tra điều khoản bất khả kháng có thủ tục thông báo và hậu quả, không chỉ có danh sách sự kiện.
- Kiểm tra điều khoản tranh chấp là một lựa chọn duy nhất, có tổ chức, địa điểm, ngôn ngữ; cân nhắc khả năng thi hành ở nước đối tác.
- Nếu hợp đồng song ngữ, ghi rõ bản ngôn ngữ nào có giá trị ưu tiên khi có khác biệt.
Với hợp đồng giá trị lớn hoặc lần đầu làm với đối tác, danh mục này không thay được việc nhờ luật sư có kinh nghiệm thương mại quốc tế rà soát; các quy định nội địa liên quan cần kiểm theo văn bản hiện hành.
Câu hỏi thường gặp
Đơn đặt hàng và xác nhận qua email có được coi là hợp đồng không?
Thường là có, nếu nội dung đủ các yếu tố cơ bản và hai bên thể hiện ý chí ràng buộc. Pháp luật Việt Nam thừa nhận thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản. Rủi ro nằm ở chỗ chuỗi email rời rạc, điều khoản mâu thuẫn giữa các lần trao đổi, khó xác định bản nào là bản cuối cùng.
Khi điều khoản chung của hai bên mâu thuẫn nhau thì sao?
Đây là "cuộc chiến biểu mẫu": người mua gửi đơn hàng kèm điều kiện chung của họ, người bán xác nhận kèm điều kiện chung của mình. Theo CISG, xác nhận có sửa đổi cơ bản là hoàn giá, và kết quả thường phụ thuộc vào văn bản cuối cùng được bên kia thực hiện mà không phản đối. Cách an toàn là ký một văn bản thống nhất.
Có nên dùng mẫu hợp đồng của ICC không?
Mẫu hợp đồng mua bán quốc tế của ICC là điểm khởi đầu tốt vì cân bằng và được soạn với CISG làm nền. Tuy nhiên mẫu không biết đặc thù hàng hoá của bạn, nên điều khoản chất lượng, đóng gói, khiếu nại vẫn phải viết riêng. Mẫu cũng cần cập nhật theo phiên bản Incoterms đang dùng.
Điều khoản phạt vi phạm có được thừa nhận trong hợp đồng quốc tế không?
Phụ thuộc luật áp dụng. CISG không điều chỉnh trực tiếp phạt vi phạm, nên vấn đề do luật quốc gia lấp vào. Một số hệ thống thông luật không cho thi hành khoản phạt mang tính trừng phạt, chỉ chấp nhận khoản bồi thường ấn định trước hợp lý. Luật Việt Nam có giới hạn mức phạt riêng, cần kiểm văn bản hiện hành.
Ngôn ngữ hợp đồng nên chọn thế nào?
Tiếng Anh là phổ biến nhất. Nếu ký song ngữ, phải ghi rõ bản nào ưu tiên. Lưu ý thuật ngữ pháp lý tiếng Anh mang nghĩa theo truyền thống thông luật, ví dụ "consequential damages" hay "best efforts", có thể khác nghĩa thông thường; dịch sát chữ dễ dẫn đến hiểu lầm về phạm vi trách nhiệm.
Hợp đồng khung và đơn hàng từng lô khác nhau thế nào?
Hợp đồng khung quy định các điều kiện chung cho một quan hệ cung ứng dài hạn, còn mỗi đơn hàng chỉ ghi số lượng, giá, thời hạn cụ thể. Cấu trúc này giảm việc đàm phán lại, nhưng cần quy định rõ khi đơn hàng mâu thuẫn với hợp đồng khung thì văn bản nào ưu tiên.