TrungTamHopTac.comTrung Tâm Hợp Tác
Hợp tác chuỗi cung ứng

VMI và CPFR là gì: tồn kho do nhà cung cấp quản lý và hoạch định hợp tác

VMI để nhà cung cấp tự bổ sung hàng cho khách dựa trên tồn kho thật; CPFR để hai bên cùng làm dự báo. Cơ chế, điều kiện thành công, chỉ số và bẫy khi triển khai.

Low angle view inside a tall distribution warehouse with a Vietnamese worker on a reach truck between high pallet racks of plain brown cartons, cool LED light, blue and ochre palette

VMI (Vendor Managed Inventory, tồn kho do nhà cung cấp quản lý) là thoả thuận trong đó khách hàng chia sẻ dữ liệu tồn kho và xuất bán, còn nhà cung cấp tự quyết định khi nào giao và giao bao nhiêu để giữ tồn kho trong mức tối thiểu–tối đa đã thống nhất. Khách hàng không còn phát đơn đặt hàng theo cách truyền thống; nhà cung cấp chịu trách nhiệm về mức sẵn hàng.

CPFR (Collaborative Planning, Forecasting and Replenishment) đi xa hơn: hai bên cùng lập kế hoạch kinh doanh, cùng làm một bản dự báo, rồi xử lý chung các ngoại lệ như khuyến mãi, ra mắt sản phẩm, thay đổi giá. Nếu VMI chuyển quyết định bổ sung hàng sang nhà cung cấp, CPFR biến dự báo thành sản phẩm chung của hai bên.

Cả hai đều nhắm vào cùng một vấn đề: thông tin bị bóp méo khi đi qua nhiều tầng đơn hàng. Bài này giải thích cơ chế, nguồn gốc, khi nào nên dùng hình thức nào, điều khoản cần thoả thuận và vì sao nhiều dự án dừng ở giai đoạn thí điểm.

Nguồn gốc: từ quan hệ nhà sản xuất–nhà bán lẻ những năm 1980

Câu chuyện thường được kể nhất về VMI là quan hệ giữa Walmart và Procter & Gamble từ cuối thập niên 1980: hai doanh nghiệp vốn có quan hệ căng thẳng quyết định thử một cách làm khác, trong đó P&G được tiếp cận dữ liệu bán hàng và tồn kho của Walmart và chịu trách nhiệm bổ sung một số mặt hàng. Mô hình này được trích dẫn rộng rãi trong giáo trình như ví dụ chuyển từ quan hệ đối đầu sang phối hợp dựa trên dữ liệu.

Giữa thập niên 1990, Walmart và Warner-Lambert thí điểm việc cùng dự báo cho một dòng sản phẩm chăm sóc răng miệng, mô hình ban đầu được gọi là CFAR. Từ kinh nghiệm này, hiệp hội tiêu chuẩn ngành bán lẻ Mỹ VICS công bố bộ hướng dẫn CPFR năm 1998, sau đó cập nhật giữa thập niên 2000 thành mô hình gồm bốn nhóm hoạt động: chiến lược và kế hoạch, quản lý cung–cầu, thực thi, và phân tích.

Ngoài bán lẻ, VMI phổ biến trong công nghiệp dưới dạng nhà cung cấp quản lý kho vật tư ngay trong nhà máy khách hàng, hoặc kho trung chuyển sát nhà máy, đặc biệt với linh kiện điện tử, ốc vít, hoá chất và bao bì. Trong ngành dầu khí và khí công nghiệp, nhà cung cấp theo dõi mức bồn chứa từ xa và tự lên lịch giao, một dạng VMI đã có từ lâu trước khi có tên gọi.

VMI, hàng ký gửi và CPFR khác nhau thế nào

Ba khái niệm hay bị dùng lẫn. Điểm phân biệt là ai quyết định bổ sung, ai sở hữu hàng trong kho, và mức độ hợp tác về dự báo.

Khía cạnhĐặt hàng truyền thốngVMIHàng ký gửi (consignment)CPFR
Ai quyết định lượng giaoKhách hàngNhà cung cấpTuỳ thoả thuận, thường kết hợp với VMIHai bên theo kế hoạch chung
Ai sở hữu hàng trong kho kháchKhách hàng, từ khi nhậnThường là khách hàng, từ khi nhậnNhà cung cấp, đến khi khách lấy dùngTuỳ thoả thuận
Dữ liệu chia sẻĐơn hàngTồn kho, xuất bánTồn kho, lượng sử dụngDự báo, kế hoạch khuyến mãi, tồn kho, bán ra
Mức hợp tác dự báoKhôngThấp, nhà cung cấp tự dự báoThấpCao, dự báo chung có xử lý ngoại lệ
Phù hợp vớiHàng ít quan trọng, nhu cầu thất thườngHàng nhu cầu ổn định, giao thường xuyênKhi khách cần giảm vốn lưu độngQuan hệ chiến lược, nhiều khuyến mãi và sản phẩm mới

Sự nhầm lẫn phổ biến nhất ở Việt Nam là coi VMI đồng nghĩa với ký gửi, tức "nhà cung cấp để hàng ở kho mình, dùng đến đâu trả tiền đến đó". Ký gửi là thoả thuận về quyền sở hữu và thanh toán; VMI là thoả thuận về quyền quyết định bổ sung. Hai thứ có thể kết hợp nhưng giải quyết hai vấn đề khác nhau: ký gửi chuyển gánh nặng vốn, VMI cải thiện chất lượng quyết định.

Vì sao VMI có thể giảm tồn kho cho cả hai bên

Bỏ một tầng dự báo. Nhà cung cấp nhìn thẳng lượng xuất bán thay vì đơn hàng đã được điều chỉnh tồn kho, nên tín hiệu nhu cầu ít bị khuếch đại. Đây là cơ chế trực tiếp chống hiệu ứng bullwhip.

Linh hoạt trong kế hoạch giao hàng. Khi tự quyết định thời điểm giao trong khung tối thiểu–tối đa, nhà cung cấp có thể ghép chuyến, san đều sản xuất, ưu tiên khách hàng sắp chạm mức tối thiểu. Đơn hàng truyền thống ép nhà cung cấp phản ứng theo thời gian của khách.

Giảm chi phí giao dịch. Không còn vòng lặp phát đơn, xác nhận, sửa đơn. Với vật tư nhiều mã, giá trị nhỏ, phần tiết kiệm về thời gian nhân sự có thể đáng kể hơn phần tiết kiệm tồn kho.

Tập trung trách nhiệm. Khi hết hàng, không còn tranh cãi bên đặt thiếu hay bên giao trễ mà chỉ có một bên chịu trách nhiệm về mức sẵn hàng, đo bằng chỉ số rõ ràng.

Nhưng lợi ích không tự động. Nếu nhà cung cấp được trả tiền theo lượng giao và không bị ràng buộc mức tối đa, VMI trở thành kênh đẩy hàng. Nếu dữ liệu tồn kho của khách sai lệch, quyết định bổ sung sai theo. Các nghiên cứu điển hình ghi nhận cả trường hợp tồn kho giảm rõ lẫn trường hợp chỉ chuyển tồn kho từ kho người mua sang kho người bán.

Triển khai VMI: các điều khoản cần thoả thuận trước

Một thoả thuận VMI tốt viết ra được bằng giấy trước khi kết nối bất kỳ hệ thống nào. Danh sách dưới đây là những điểm hay gây tranh chấp nhất nếu bị bỏ qua.

  1. Phạm vi mã hàng và địa điểm kho áp dụng; bắt đầu với nhóm nhỏ, nhu cầu ổn định.
  2. Mức tối thiểu và tối đa cho từng mã, cách tính lại định kỳ, ai có quyền thay đổi.
  3. Dữ liệu chia sẻ: loại dữ liệu, tần suất, định dạng, hạn chót gửi, và bên nào chịu trách nhiệm độ chính xác tồn kho.
  4. Quyền sở hữu và thời điểm chuyển rủi ro: khi nhận hàng hay khi xuất dùng; ai chịu hư hỏng, mất mát trong kho.
  5. Thanh toán: theo lượng giao hay lượng sử dụng; đối chiếu bao lâu một lần.
  6. Chỉ số hiệu quả và hệ quả: tỷ lệ sẵn hàng, số lần dưới mức tối thiểu, số ngày tồn kho, số lần vượt mức tối đa.
  7. Xử lý ngoại lệ: khuyến mãi, thay đổi thiết kế, ngừng sản phẩm; ai chịu hàng tồn khi mã bị loại bỏ.
  8. Điều kiện chấm dứt và xử lý hàng còn lại khi kết thúc chương trình.

Điểm cuối hay bị quên nhất. Khi chương trình dừng, câu hỏi ai mua lại lượng hàng đang nằm trong kho khách hàng có thể biến một quan hệ tốt thành tranh chấp.

CPFR vận hành thế nào và vì sao ít doanh nghiệp đi hết đường

Trong CPFR, hai bên trước hết thoả thuận khung hợp tác: mục tiêu, phạm vi, người phụ trách, cách xử lý dữ liệu. Sau đó lập kế hoạch kinh doanh chung cho kỳ tới, gồm các sự kiện như khuyến mãi, mở cửa hàng mới, ra mắt sản phẩm. Mỗi bên làm dự báo riêng rồi so; chênh lệch vượt ngưỡng thoả thuận trở thành ngoại lệ cần thảo luận và chốt con số chung. Dự báo đơn hàng được rút ra từ dự báo bán hàng chung, và nhà cung cấp cam kết năng lực đáp ứng.

Lợi ích tiềm năng lớn hơn VMI vì xử lý được chính những sự kiện làm hỏng dự báo: một chương trình khuyến mãi mà bộ phận kinh doanh của nhà bán lẻ biết từ hai tháng trước nhưng nhà sản xuất chỉ biết khi đơn hàng tăng vọt. Tuy vậy, khảo sát và nghiên cứu điển hình trong hai thập niên qua cho thấy nhiều dự án CPFR dừng ở thí điểm với vài mặt hàng.

Lý do thường không nằm ở công nghệ. CPFR đòi hỏi các phòng ban bên trong mỗi doanh nghiệp trước hết phải thống nhất với nhau một con số, điều mà nhiều doanh nghiệp chưa làm được. Nó cần nhân sự chuyên trách ở cả hai phía, cần mức tin cậy đủ để chia sẻ kế hoạch khuyến mãi, và chỉ đáng công với khách hàng đủ lớn. Bài học thực tế: làm tốt hoạch định cung–cầu nội bộ (S&OP) trước, rồi mới mở rộng ra hợp tác với đối tác.

Khi nào nên và không nên dùng

VMI và CPFR không phải bước tiến hoá bắt buộc. Chúng phù hợp với một số điều kiện cụ thể và gây hại khi áp sai chỗ.

  • Nên dùng VMI khi nhu cầu tương đối ổn định, giao hàng thường xuyên, khách hàng có dữ liệu tồn kho đáng tin, nhà cung cấp có năng lực lập kế hoạch và quan hệ đủ dài để bù chi phí thiết lập.
  • Nên dùng CPFR khi doanh số giữa hai bên lớn, nhiều khuyến mãi và sản phẩm mới, sai số dự báo hiện tại gây thiệt hại rõ ràng cho cả hai.
  • Không nên khi dữ liệu tồn kho khách hàng chênh lệch lớn so với thực tế; khi nhu cầu rất thất thường và phụ thuộc dự án; khi một bên chỉ muốn chuyển gánh nặng tồn kho sang bên kia mà không chia lợi ích.
  • Thận trọng khi nhà cung cấp cũng cung cấp cho đối thủ trực tiếp của khách hàng: dữ liệu bán hàng cần được tách và bảo vệ; trong một số bối cảnh, việc trao đổi thông tin nhạy cảm giữa đối thủ còn có thể đặt ra câu hỏi theo pháp luật cạnh tranh, nên hỏi chuyên gia pháp lý.

Với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, bước đầu thực tế là "VMI nhẹ": nhà phân phối gửi file tồn kho và xuất bán hằng tuần, nhà sản xuất đề xuất đơn hàng, nhà phân phối duyệt. Cách này chưa trao quyền quyết định nhưng đã đưa dữ liệu nhu cầu thật lên trên và giúp hai bên làm quen với việc làm việc trên cùng số liệu.

Ví dụ giả định: VMI giữa nhà sản xuất bao bì và nhà máy nước giải khát

Ví dụ giả định. Một nhà máy nước giải khát ở Bình Dương (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh) dùng khoảng ba mươi mã nhãn màng co và thùng carton, trước đây đặt hàng hằng tuần qua email. Kho thường xuyên thừa mã bán chậm và thiếu mã bán chạy, có tuần phải dừng một dây chuyền nửa ca chờ nhãn. Hai bên thoả thuận VMI cho mười mã có nhu cầu ổn định nhất: nhà máy gửi tồn kho và lượng xuất dùng mỗi ngày qua một tệp tự động, nhà cung cấp tự lên lịch giao để giữ tồn kho trong khoảng ba đến tám ngày sử dụng.

Sau hai quý, điều thay đổi lớn nhất không phải là tồn kho trung bình mà là số lần thiếu hàng, vì nhà cung cấp thấy sớm mã sắp chạm mức tối thiểu và chủ động chèn lịch in. Vấn đề phát sinh nằm ở chỗ khác: khi phòng marketing đổi mẫu nhãn cho chương trình khuyến mãi mà không báo trước, nhà cung cấp kẹt lại một lượng nhãn cũ đã in. Bài học được ghi vào phụ lục: mọi thay đổi thiết kế phải báo trước một khoảng thời gian thoả thuận, và nhà máy chịu chi phí nhãn đã in theo mức tối đa nếu báo muộn.

Câu hỏi thường gặp

VMI có làm khách hàng mất quyền kiểm soát tồn kho không?

Khách hàng giao quyền quyết định từng lần giao nhưng giữ quyền đặt luật chơi: mức tối thiểu, tối đa, chỉ số hiệu quả và điều kiện chấm dứt. Nếu thoả thuận đặt mức tối đa chặt và đo đều đặn, khách hàng kiểm soát kết quả tốt hơn so với khi tự đặt hàng mà không có dữ liệu bán ra đầy đủ.

Cần phần mềm gì để chạy VMI?

Tối thiểu là cơ chế chia sẻ dữ liệu tồn kho và xuất bán đáng tin, có thể chỉ là tệp tự động xuất từ ERP theo mẫu cố định. Quy mô lớn hơn thì dùng trao đổi dữ liệu điện tử hoặc cổng nhà cung cấp và mô-đun hoạch định bổ sung. Độ chính xác tồn kho quan trọng hơn mức độ tinh vi của phần mềm.

Nhà cung cấp được lợi gì khi nhận thêm trách nhiệm?

Họ có tầm nhìn nhu cầu tốt hơn nên lên kế hoạch sản xuất và vận chuyển hiệu quả hơn, giảm đơn hàng gấp, và quan hệ với khách hàng gắn bó hơn vì chi phí chuyển đổi tăng. Nếu khách hàng chỉ đẩy việc mà không chia lợi ích, nhà cung cấp nên đề xuất cơ chế chia sẻ phần tiết kiệm.

Sự khác biệt giữa CPFR và S&OP là gì?

S&OP là quy trình nội bộ để các phòng ban kinh doanh, sản xuất, mua hàng, tài chính thống nhất một kế hoạch cung–cầu hằng tháng. CPFR mở rộng logic tương tự ra ngoài, giữa hai doanh nghiệp. Doanh nghiệp chưa có S&OP vận hành thường gặp khó với CPFR vì không có một con số nội bộ để đem ra đối chiếu với đối tác.

Đo hiệu quả chương trình VMI bằng gì?

Các chỉ số thường dùng là tỷ lệ sẵn hàng hoặc tỷ lệ đáp ứng đơn, số ngày tồn kho tại kho khách hàng, số lần tồn kho dưới mức tối thiểu và vượt mức tối đa, tần suất và chi phí giao hàng, và độ chính xác dữ liệu tồn kho. Nên đo trước khi bắt đầu để có mốc so sánh.

Hàng ký gửi có lợi cho nhà cung cấp không?

Ký gửi chủ yếu có lợi cho khách hàng về vốn lưu động. Nhà cung cấp chịu vốn và rủi ro tồn kho lâu hơn, đổi lại có thể giữ được khách hàng, bán được nhiều hơn và tiếp cận dữ liệu sử dụng. Với nhà cung cấp nhỏ, ký gửi khối lượng lớn có thể gây áp lực dòng tiền, cần tính kỹ trước khi nhận.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.