TrungTamHopTac.comTrung Tâm Hợp Tác
Hợp tác chuỗi cung ứng

Rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng: nhận diện, đo thời gian phục hồi và kế hoạch ứng phó

Gián đoạn chuỗi cung ứng hiếm khi đến từ nơi bạn đang nhìn. Cách lập bản đồ nhiều cấp, đo thời gian phục hồi và thời gian chịu đựng, và lập kế hoạch ứng phó có thứ tự.

Silhouette of a lone Vietnamese logistics manager standing at a large window overlooking an empty rain-soaked truck yard at dusk, moody backlight, indigo and amber palette

Rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng là khả năng một sự kiện, từ cháy nhà máy nhà cung cấp, thiên tai, tắc nghẽn cảng đến lệnh hạn chế thương mại, làm doanh nghiệp không có đủ đầu vào hoặc không giao được hàng. Phần lớn gián đoạn nghiêm trọng đến từ những nút mà doanh nghiệp không theo dõi: nhà cung cấp cấp hai, cấp ba, một vùng địa lý tập trung, hoặc một vật tư giá trị nhỏ nhưng chỉ có một nguồn.

Cách tiếp cận hiệu quả không bắt đầu bằng việc liệt kê mọi rủi ro có thể và đoán xác suất, vì với các sự kiện hiếm thì xác suất gần như không ước lượng được. Thay vào đó, theo đề xuất của David Simchi-Levi và cộng sự (2014), doanh nghiệp đo cho từng nút hai con số: thời gian phục hồi (nút đó cần bao lâu để hoạt động lại) và thời gian chịu đựng (doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu bao lâu khi nút đó dừng). Nút nào có thời gian phục hồi dài hơn thời gian chịu đựng là nút cần xử lý.

Bài này trình bày các bài học từ những sự cố đã được ghi chép kỹ, phương pháp lập bản đồ và đo hai chỉ số này, các chiến lược ứng phó và một kế hoạch hành động có thứ tự.

Những sự cố đã định hình cách nghĩ về rủi ro chuỗi cung ứng

Các sự cố dưới đây được nghiên cứu và trích dẫn rộng rãi trong tài liệu quản trị chuỗi cung ứng. Bài học của chúng quan trọng hơn chi tiết.

  • Cháy nhà máy chip ở Albuquerque, tháng 3/2000: một đám cháy nhỏ do sét tại nhà máy Philips làm nhiễm bẩn phòng sạch. Nokia phát hiện bất thường sớm, leo thang lên lãnh đạo và giành công suất thay thế; Ericsson phản ứng chậm và chịu thiệt hại lớn về doanh số. Yossi Sheffi phân tích sự cố này trong cuốn The Resilient Enterprise (2005). Bài học: tốc độ phát hiện và ra quyết định quan trọng ngang với dự phòng vật chất.
  • Cháy nhà máy Aisin, tháng 2/1997: nhà máy gần như là nguồn duy nhất cung cấp van phanh cho Toyota bị cháy. Mạng lưới nhà cung cấp của Toyota tự tổ chức sản xuất thay thế và dây chuyền lắp ráp hoạt động lại trong khoảng một tuần. Bài học: quan hệ sâu và năng lực chung của mạng lưới là một dạng dự phòng.
  • Động đất và sóng thần Nhật Bản, tháng 3/2011: nhà máy Renesas sản xuất vi điều khiển cho ô tô bị hư hại, nhiều hãng xe toàn cầu phát hiện họ phụ thuộc vào một nguồn ở cấp sâu mà họ không biết.
  • Lũ lụt Thái Lan cuối năm 2011: các khu công nghiệp tập trung nhà máy linh kiện ổ cứng bị ngập, nguồn cung ổ cứng toàn cầu thiếu hụt trong nhiều tháng. Bài học: rủi ro tập trung địa lý.
  • Tàu Ever Given mắc kẹt ở kênh Suez, tháng 3/2021, và gián đoạn vận tải biển trong đại dịch: rủi ro không chỉ ở nhà cung cấp mà ở các nút hạ tầng logistics chung.

Vì sao ma trận xác suất–tác động không đủ

Công cụ quen thuộc nhất là ma trận rủi ro: mỗi rủi ro được chấm xác suất và tác động, nhân lại để xếp hạng. Với rủi ro vận hành thường ngày như giao trễ, lỗi chất lượng, công cụ này hữu ích vì có dữ liệu lịch sử. Với gián đoạn nghiêm trọng, nó có hai điểm yếu căn bản.

Thứ nhất, xác suất của sự kiện hiếm gần như không thể ước lượng đáng tin. Ai dám khẳng định xác suất cháy một nhà máy cụ thể ở cấp ba trong năm tới là một phần nghìn hay một phần trăm? Con số đưa vào ma trận khi đó là phỏng đoán khoác áo định lượng, và rủi ro hiếm thường bị xếp hạng thấp rồi bỏ qua. Thứ hai, ma trận liệt kê sự kiện (cháy, lũ, đình công) trong khi điều doanh nghiệp quan tâm là hậu quả (nút nào dừng, dừng bao lâu). Rất nhiều sự kiện khác nhau dẫn đến cùng một hậu quả.

Cách tiếp cận của Simchi-Levi, William Schmidt và Yehua Wei trên Harvard Business Review năm 2014 chuyển trọng tâm từ nguyên nhân sang hậu quả: bỏ qua câu hỏi "chuyện gì có thể xảy ra" mà hỏi "nếu nút này dừng, bao lâu nó phục hồi, và chúng ta trụ được bao lâu". Họ mô tả việc áp dụng mô hình này tại Ford, phát hiện rằng nhiều nút gây rủi ro cao nhất là những vật tư chi tiêu thấp mà bộ phận mua hàng ít chú ý.

Lập bản đồ chuỗi cung ứng và đo thời gian phục hồi, chịu đựng

Quy trình dưới đây làm được với bảng tính và vài tuần công sức cho một dòng sản phẩm chính. Không cần làm toàn bộ danh mục ngay từ đầu.

  1. Chọn dòng sản phẩm đóng góp doanh thu hoặc lợi nhuận lớn nhất, lấy định mức vật tư để có danh sách đầu vào.
  2. Với mỗi đầu vào, ghi nhà cung cấp cấp một, địa điểm sản xuất thật (không phải địa chỉ văn phòng), và các nguồn thay thế đã được phê duyệt.
  3. Với đầu vào quan trọng, hỏi nhà cung cấp cấp một về nguồn nguyên liệu chính của họ và địa điểm, tức cấp hai. Nhiều nhà cung cấp sẽ ngại chia sẻ; cam kết bảo mật và giải thích mục đích giúp ích.
  4. Ước lượng thời gian phục hồi cho từng nút cùng nhà cung cấp: nếu nhà máy dừng hoàn toàn, mất bao lâu để quay lại công suất đủ dùng, hoặc chuyển sang nguồn khác đã được phê duyệt.
  5. Tính thời gian chịu đựng: tồn kho của doanh nghiệp và hàng đang trên đường, cộng tồn kho tại nhà cung cấp, cộng khả năng dùng vật tư thay thế, cộng khả năng ưu tiên sản phẩm lợi nhuận cao, quy ra số ngày đáp ứng nhu cầu.
  6. Đánh dấu nút có thời gian phục hồi dài hơn thời gian chịu đựng; ước tính thiệt hại doanh thu nếu nút đó dừng để xếp thứ tự xử lý.
  7. Kiểm tra tập trung địa lý: bao nhiêu nút quan trọng nằm trong cùng một khu công nghiệp, một tỉnh, một cảng.

Ví dụ giả định: một chi tiết nhựa ép có hai tuần tồn kho tại nhà máy và một tuần tại nhà cung cấp, tức thời gian chịu đựng khoảng ba tuần. Khuôn ép chỉ có một bộ, làm khuôn mới mất mười tuần. Thời gian phục hồi gấp hơn ba lần thời gian chịu đựng, nên đây là nút ưu tiên dù giá trị mua hằng năm nhỏ. Phương án có thể là làm bộ khuôn thứ hai đặt ở nhà cung cấp khác.

Bốn nhóm chiến lược ứng phó và chi phí đi kèm

Không có chiến lược nào miễn phí. Lựa chọn phụ thuộc vào khoảng cách giữa thời gian phục hồi và thời gian chịu đựng, và vào giá trị doanh thu cần bảo vệ.

NhómBiện phápChi phí chínhPhù hợp khi
ĐệmTồn kho an toàn chiến lược, công suất dự phòngVốn lưu động, kho bãi, rủi ro lỗi thờiVật tư giá trị nhỏ, ít lỗi thời, thời gian phục hồi dài
Dư thừa nguồnNguồn thứ hai được phê duyệt, khuôn mẫu thứ hai, nhiều địa điểm sản xuấtChi phí phê duyệt, mất lợi thế quy mô, chi phí quản lýVật tư giá trị lớn hoặc nhu cầu tăng trưởng
Linh hoạtThiết kế dùng linh kiện chuẩn, nhà máy sản xuất được nhiều sản phẩm, hợp đồng có điều khoản ưu tiên phân bổChi phí thiết kế và đào tạo, đôi khi giảm hiệu suấtSản phẩm có vòng đời dài, thay đổi được thiết kế
Tầm nhìn và phản ứngTheo dõi tin tức địa điểm nhà cung cấp, chỉ số sức khoẻ tài chính, đội ứng phó có quyền quyết định nhanhNhân sự, công cụ theo dõiMọi doanh nghiệp, là lớp nền cho các nhóm còn lại

Bài học Nokia–Ericsson nằm ở nhóm cuối: hai doanh nghiệp cùng chịu một sự cố, khác biệt nằm ở tốc độ nhận ra và quyền ra quyết định. Một đội ứng phó với danh sách liên lạc cập nhật, kịch bản được diễn tập, và ngân sách khẩn cấp đã được phê duyệt trước thường rẻ hơn nhiều so với dự phòng vật chất cho mọi nút.

Hiểu lầm phổ biến về khả năng phục hồi

"Đa nguồn là đủ an toàn." Hai nhà cung cấp cấp một khác nhau có thể cùng mua nguyên liệu từ một nhà máy cấp hai duy nhất, hoặc cùng nằm trong một khu công nghiệp. Đa nguồn ở bề mặt có thể che một điểm đơn lẻ ở tầng sâu. Đây chính là điều nhiều hãng ô tô phát hiện năm 2011.

"Tinh gọn và phục hồi mâu thuẫn nhau." Sản xuất tinh gọn giảm tồn kho, nhưng cũng rèn năng lực phát hiện vấn đề nhanh và quan hệ chặt với nhà cung cấp, chính là những thứ giúp phục hồi. Câu chuyện Aisin–Toyota cho thấy một hệ thống tinh gọn vẫn phục hồi nhanh nhờ năng lực mạng lưới. Vấn đề là tinh gọn máy móc, cắt tồn kho mà không tính thời gian phục hồi.

"Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã lo." Bảo hiểm có thể bù một phần thiệt hại tài chính trong phạm vi hợp đồng, nhưng không lấy lại được khách hàng đã chuyển sang đối thủ trong lúc doanh nghiệp không giao được hàng. Gián đoạn từ nhà cung cấp còn cần điều khoản mở rộng riêng; cần đọc kỹ điều kiện và loại trừ.

"Gần hơn thì an toàn hơn." Chuyển nguồn về gần giảm rủi ro vận tải và địa chính trị, nhưng có thể tăng rủi ro tập trung nếu mọi nhà cung cấp mới đều nằm cùng một vùng có nguy cơ thiên tai, như ngập lụt. Cần đánh giá rủi ro của vị trí mới, không chỉ khoảng cách.

Kế hoạch hành động chín mươi ngày

Ba mươi ngày đầu, chọn một dòng sản phẩm, lập bản đồ cấp một và tính thời gian chịu đựng cho từng đầu vào bằng dữ liệu tồn kho có sẵn. Song song, lập danh sách liên lạc khẩn cấp với nhà cung cấp quan trọng, gồm người có quyền quyết định chứ không chỉ nhân viên bán hàng. Kết quả đầu ra là danh sách khoảng mười nút có rủi ro cao nhất.

Ba mươi ngày tiếp theo, làm việc với nhà cung cấp của mười nút đó: hỏi thời gian phục hồi, nguồn cấp hai, kế hoạch dự phòng của chính họ. Xác định biện pháp cho từng nút theo bốn nhóm ở trên và ước chi phí. Trình lãnh đạo dưới dạng so sánh chi phí biện pháp với thiệt hại doanh thu ước tính nếu nút đó dừng.

Ba mươi ngày cuối, triển khai các biện pháp rẻ trước: tồn kho an toàn cho vật tư nhỏ, phê duyệt nguồn thay thế đang có sẵn, sửa hợp đồng để có điều khoản thông báo sự cố và ưu tiên phân bổ. Tổ chức một buổi diễn tập giả định một nhà cung cấp dừng hoạt động, để kiểm tra ai phát hiện, ai quyết định, mất bao lâu. Các doanh nghiệp muốn chuẩn hoá có thể tham khảo khung quản lý kinh doanh liên tục ISO 22301.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp nhỏ có cần lập bản đồ chuỗi cung ứng không?

Cần, nhưng ở quy mô nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ thường phụ thuộc vào ít nhà cung cấp hơn, nên một bảng liệt kê hai mươi đầu vào quan trọng, địa điểm sản xuất, nguồn thay thế và số ngày tồn kho đã cung cấp phần lớn giá trị. Việc này mất vài ngày nhưng có thể cứu doanh nghiệp khỏi một lần dừng sản xuất kéo dài.

Nhà cung cấp không chịu tiết lộ nguồn cấp hai thì làm sao?

Có thể yêu cầu thông tin ở mức địa điểm và quốc gia thay vì tên công ty, ký cam kết bảo mật, hoặc đưa nghĩa vụ chia sẻ thông tin rủi ro vào hợp đồng mới. Với vật tư rất quan trọng, doanh nghiệp có thể tự tìm hiểu cấu trúc ngành để suy ra các nhà sản xuất nguyên liệu chính có thể có.

Nên giữ bao nhiêu tồn kho chiến lược?

Không có con số chung. Mức hợp lý xuất phát từ khoảng cách giữa thời gian phục hồi và thời gian chịu đựng hiện tại, giá trị của vật tư, rủi ro lỗi thời và chi phí vốn. Với vật tư giá trị nhỏ, thời gian phục hồi dài, tăng vài tuần tồn kho thường là biện pháp rẻ nhất. Với vật tư đắt, nhanh lỗi thời, nên ưu tiên nguồn thay thế.

Làm sao phát hiện sớm nhà cung cấp gặp khó khăn tài chính?

Các tín hiệu thường gặp: đề nghị rút ngắn thời hạn thanh toán hoặc tạm ứng, chất lượng và giao hàng xấu đi đột ngột, nhân sự chủ chốt nghỉ việc, giảm đầu tư bảo trì, tin đồn từ đối tác chung. Theo dõi định kỳ báo cáo tài chính của nhà cung cấp chiến lược và đưa nghĩa vụ thông báo thay đổi lớn vào hợp đồng.

Kế hoạch ứng phó nên cập nhật bao lâu một lần?

Ít nhất mỗi năm một lần, và mỗi khi có thay đổi lớn như nhà cung cấp mới, sản phẩm mới, chuyển địa điểm sản xuất. Danh sách liên lạc khẩn cấp nên kiểm tra hằng quý vì nhân sự thay đổi thường xuyên. Diễn tập ít nhất mỗi năm giúp phát hiện các giả định đã lỗi thời.

Có nên tính chi phí phục hồi vào giá khi chọn nhà cung cấp không?

Nên đưa vào tổng chi phí sở hữu dưới dạng chi phí rủi ro, ít nhất ở mức định tính hoặc theo kịch bản. Nhà cung cấp rẻ hơn nhưng có một nhà máy duy nhất ở vùng ngập lụt có thể đắt hơn khi tính rủi ro. Cách làm thực tế là đặt ngưỡng: vượt mức rủi ro nhất định thì phải có phương án dự phòng trước khi ký.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.