Hợp đồng hợp tác kinh doanh là thoả thuận để hai hay nhiều bên cùng góp nguồn lực, cùng làm một việc kinh doanh và cùng chia kết quả, nhưng không lập ra một công ty mới. Vì không có pháp nhân đứng giữa, toàn bộ luật chơi giữa các bên (ai góp gì, ai quyết gì, chia thế nào, ra sao khi đổ vỡ) chỉ nằm trong văn bản hợp đồng. Thiếu điều khoản nào là thiếu luật chơi ở chỗ đó.
Một hợp đồng hợp tác đủ dùng thường có khoảng mười hai phần: chủ thể và mục đích, định nghĩa, phạm vi hợp tác, góp vốn, cơ chế quản lý, tài chính và kế toán, phân chia kết quả, bảo mật và sở hữu trí tuệ, cam kết không cạnh tranh, vi phạm và chế tài, chấm dứt, giải quyết tranh chấp. Các phần về góp vốn, quyền quyết định và chấm dứt là nơi tranh chấp phát sinh nhiều nhất trong thực tế.
Bài này trình bày khung pháp lý chung, lý do loại hợp đồng này khó soạn, bảng cấu trúc chuẩn kèm câu hỏi mỗi phần phải trả lời, và những lỗi cấu trúc hay gặp. Nội dung mang tính tham khảo, không thay tư vấn của luật sư; quy định viện dẫn cần được kiểm lại theo văn bản hiện hành.
Hợp đồng hợp tác nằm ở đâu trong pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, khái niệm này xuất hiện ở hai tầng văn bản. Bộ luật Dân sự 2015 có một tiểu mục riêng về hợp đồng hợp tác, áp dụng chung cho cá nhân và pháp nhân cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc và cùng hưởng lợi, cùng chịu trách nhiệm. Luật Đầu tư 2020 quy định riêng hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC (Business Cooperation Contract): hợp đồng ký giữa các nhà đầu tư để hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận hoặc sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế.
Hai tầng này không loại trừ nhau. Luật chuyên ngành (đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, thuế) quy định những gì riêng cho từng lĩnh vực; phần không có quy định riêng thì áp dụng nguyên tắc chung của luật dân sự về hợp đồng: tự do thoả thuận, thiện chí, trung thực, không trái điều cấm của luật. Khi có bên là nhà đầu tư nước ngoài, BCC còn gắn với thủ tục đầu tư; điều kiện và hồ sơ cụ thể phải tra cứu theo văn bản đang có hiệu lực.
Điểm cần nắm cho người soạn: không có pháp nhân chung nghĩa là không có điều lệ, không có hội đồng thành viên do luật định sẵn. Ở công ty, khi hợp đồng giữa các thành viên im lặng, luật doanh nghiệp và điều lệ lấp chỗ trống. Ở hợp đồng hợp tác, khi văn bản im lặng thì các bên phải tự suy luận từ quy định chung, mà quy định chung thì rất ít khi trả lời được câu hỏi kinh doanh cụ thể như ai được ký hợp đồng mua hàng trên năm trăm triệu đồng hay lỗ năm đầu chia thế nào.
Vì sao hợp đồng hợp tác khó soạn hơn hợp đồng mua bán
Hợp đồng mua bán là giao dịch một lần: hàng gì, giá bao nhiêu, giao khi nào. Hợp đồng hợp tác là quan hệ kéo dài nhiều năm, trong đó các bên phải liên tục ra quyết định chung trước những tình huống chưa ai biết trước. Kinh tế học gọi đây là hợp đồng không hoàn chỉnh: không thể viết trước mọi kịch bản, vì chi phí liệt kê quá lớn và vì tương lai bất định. Lý thuyết này gắn với công trình của Sanford Grossman và Oliver Hart (1986), sau đó là Hart và John Moore (1990); Hart nhận giải Nobel kinh tế năm 2016 cùng Bengt Holmström phần lớn vì nhánh nghiên cứu này.
Hệ quả thực hành của lý thuyết rất rõ: khi không viết được mọi tình huống, điều quan trọng nhất là quy định ai có quyền quyết định trong những tình huống chưa viết, và quy trình gì để quyết. Một hợp đồng hợp tác tốt vì vậy không phải là hợp đồng dài nhất, mà là hợp đồng có cơ chế quản trị rõ: hội đồng hay ban điều phối, vấn đề nào cần đồng thuận, bế tắc thì phá bằng cách nào, rút lui theo đường nào.
Một dòng nghiên cứu khác nhắc người soạn đừng tin quá vào văn bản. Stewart Macaulay, trong bài "Non-Contractual Relations in Business" (1963), khảo sát doanh nghiệp ở bang Wisconsin và thấy nhiều giao dịch vận hành chủ yếu nhờ quan hệ và uy tín; hợp đồng chi tiết thậm chí bị coi là dấu hiệu thiếu tin tưởng. Ian Macneil sau đó phát triển khái niệm hợp đồng quan hệ. Bài học kép: hợp đồng không thay được niềm tin, nhưng khi niềm tin đổ vỡ thì văn bản là thứ duy nhất còn lại để phân xử.
Bảng khung 12 phần của một hợp đồng hợp tác
Bảng dưới đây dùng như danh mục khi soạn hoặc đọc một bản nháp. Cột thứ ba là câu hỏi mà phần đó phải trả lời được bằng chữ trên giấy, không phải bằng "các bên sẽ trao đổi".
| Phần | Nội dung chính | Câu hỏi phải trả lời được |
|---|---|---|
| 1. Chủ thể, căn cứ, mục đích | Thông tin pháp lý các bên, người ký và thẩm quyền, mục tiêu hợp tác | Người ký có đủ thẩm quyền không? Mục đích có đủ hẹp để biết khi nào "hoàn thành"? |
| 2. Định nghĩa | Doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tài sản hợp tác, thông tin mật, bên liên kết | Hai kế toán độc lập đọc định nghĩa lợi nhuận có ra cùng một con số không? |
| 3. Phạm vi | Sản phẩm, địa bàn, khách hàng, thời hạn | Việc gì nằm ngoài hợp tác và mỗi bên được tự làm? |
| 4. Góp vốn | Loại tài sản góp, giá trị, tiến độ, góp bổ sung | Ai góp chậm thì hậu quả là gì, tự động hay phải khởi kiện? |
| 5. Quản lý | Ban điều phối, người đại diện, ngưỡng quyết định | Vấn đề nào cần đồng thuận? Bế tắc thì phá thế nào? |
| 6. Tài chính, kế toán | Tài khoản, sổ sách, hoá đơn, kê khai thuế, báo cáo | Bên nào giữ sổ, bên kia kiểm tra bằng cách nào? |
| 7. Phân chia kết quả | Cơ chế chia, thứ tự chia, kỳ chia, xử lý lỗ | Lỗ thì ai chịu và có giới hạn không? |
| 8. Bảo mật, sở hữu trí tuệ | Thông tin mật, tài sản trí tuệ mang vào và tạo ra | Hết hợp tác, ai giữ nhãn hiệu, phần mềm, dữ liệu khách hàng? |
| 9. Không cạnh tranh | Lĩnh vực, địa bàn, thời gian, không lôi kéo | Phạm vi có hợp lý để không bị coi là vô hiệu? |
| 10. Vi phạm, chế tài | Phạt vi phạm, bồi thường, giới hạn trách nhiệm | Mức phạt có nằm trong giới hạn luật cho phép? |
| 11. Chấm dứt | Căn cứ, thông báo, thanh lý tài sản | Tài sản chung và khách hàng được chia thế nào khi kết thúc? |
| 12. Tranh chấp | Thương lượng, hoà giải, trọng tài hoặc toà án, luật áp dụng | Điều khoản trọng tài có đủ rõ để không bị tuyên vô hiệu? |
Mỗi phần từ 4 đến 12 đều có bài phân tích riêng trên chuyên mục này. Ở đây chỉ cần nhớ nguyên tắc: phần nào bạn chưa trả lời được câu hỏi ở cột ba thì phần đó chưa xong, dù văn bản trông đầy đủ.
Phần mở đầu và định nghĩa: nơi tranh chấp được gieo mầm
Phần chủ thể hay bị coi là thủ tục, nhưng lỗi ở đây có thể làm cả hợp đồng mất hiệu lực. Cần kiểm người ký có thẩm quyền: là người đại diện theo pháp luật ghi trong đăng ký doanh nghiệp, hoặc có giấy uỷ quyền hợp lệ còn hạn và đúng phạm vi. Với công ty có điều lệ yêu cầu hội đồng thành viên hay hội đồng quản trị chấp thuận giao dịch lớn hoặc giao dịch với người có liên quan, cần có nghị quyết kèm theo. Một bên có thể viện lý do người ký vượt thẩm quyền để thoát hợp đồng khi tình hình bất lợi.
Phần mục đích nên viết đủ hẹp. "Hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm" quá rộng để biết khi nào hợp tác hoàn thành và việc gì là cạnh tranh với hợp tác. "Cùng đầu tư, vận hành một xưởng sấy trái cây tại Tiền Giang để bán cho các nhà phân phối trong nước trong năm năm" thì đo được.
Phần định nghĩa là chỗ đáng đầu tư thời gian nhất. Từ "lợi nhuận" mà không định nghĩa thì mỗi bên sẽ đọc theo hướng có lợi cho mình: lợi nhuận trước hay sau thuế, có trừ khấu hao không, có trừ phí quản lý mà một bên tự tính cho mình không. Các từ cần định nghĩa tối thiểu: doanh thu hợp tác, chi phí hợp lệ, lợi nhuận phân chia, tài sản hợp tác, thông tin mật, bên liên kết, sự kiện thay đổi quyền kiểm soát, vi phạm nghiêm trọng. Định nghĩa tốt dẫn chiếu tới chuẩn mực kế toán áp dụng và nêu rõ ngoại lệ.
Cơ chế vận hành khi không có pháp nhân chung
Vì hợp tác không có tư cách pháp lý riêng, mọi giao dịch với bên ngoài phải do một trong các bên đứng tên: ký hợp đồng với khách hàng, xuất hoá đơn, thuê lao động, mở tài khoản. Hợp đồng cần chỉ định bên đứng tên vận hành cho từng nhóm việc và giới hạn quyền của bên đó. Luật Đầu tư 2020 yêu cầu các bên trong BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban này do các bên tự thoả thuận, nên hợp đồng phải viết cụ thể.
Về kế toán và thuế, nguyên tắc thực hành là chọn một bên giữ sổ sách riêng cho hoạt động hợp tác, tách khỏi hoạt động khác của bên đó, và các bên còn lại có quyền kiểm tra. Quy định thuế hiện hành có hướng dẫn riêng về việc bên nào kê khai, nộp thuế cho hoạt động BCC và cách phân bổ; vì các hướng dẫn này thay đổi theo thời kỳ, bạn nên làm việc với kế toán thuế trước khi chốt điều khoản, thay vì viết theo một mẫu cũ.
Một điểm hay bị bỏ qua là trách nhiệm với bên thứ ba. Khi bên A đứng tên ký hợp đồng mua nguyên liệu cho dự án chung rồi không thanh toán, nhà cung cấp kiện bên A. Hợp đồng hợp tác phải quy định bên A được bên B hoàn trả phần nào, trong điều kiện nào, và bên A không được tự ý ký nghĩa vụ vượt ngưỡng đã thống nhất. Không có điều khoản này, bên đứng tên gánh rủi ro một mình còn bên kia chia lãi.
Lỗi cấu trúc hay gặp: hiểu lầm và thực tế
Phần lớn hợp đồng hợp tác của doanh nghiệp vừa và nhỏ không hỏng vì thiếu chữ mà vì một vài hiểu lầm lặp lại. Bảng dưới gom các lỗi gặp nhiều khi rà soát bản nháp.
| Hiểu lầm | Thực tế | Cách sửa |
|---|---|---|
| Dùng mẫu trên mạng là đủ, chỉ cần điền tên | Mẫu không biết dự án của bạn có đất, có thương hiệu hay có nhân sự chủ chốt | Dùng mẫu làm danh mục kiểm tra, viết lại các phần 4, 5, 7, 11 |
| Quan hệ thân thiết thì viết ngắn cho đỡ mất lòng | Tranh chấp giữa người quen thường gay gắt nhất vì kỳ vọng ngầm khác nhau | Viết rõ ngay từ đầu, coi đó là bảo vệ quan hệ |
| Ghi "các bên sẽ thoả thuận sau" cho phần chưa chốt | Thoả thuận để thoả thuận gần như không có giá trị ràng buộc | Ghi cơ chế mặc định áp dụng nếu không thoả thuận được trong thời hạn |
| Tỷ lệ góp vốn tự động là tỷ lệ chia lãi và tỷ lệ biểu quyết | Ba tỷ lệ này có thể và thường nên khác nhau | Quy định riêng từng tỷ lệ |
| Chỉ cần điều khoản chấm dứt khi có vi phạm | Phần lớn hợp tác kết thúc vì chiến lược thay đổi, không phải vi phạm | Có lối rút lui không cần lỗi: mua lại, chuyển nhượng, giải thể có trật tự |
Lỗi thứ tư đáng nhấn mạnh. Bên góp đất có thể góp sáu mươi phần trăm giá trị nhưng bên góp công nghệ và vận hành lại quyết định phần lớn kết quả; gắn cứng ba tỷ lệ với nhau thường tạo ra bất mãn sau vài năm.
Phụ lục, sửa đổi và quản lý phiên bản
Hợp đồng hợp tác sống nhiều năm nên sẽ được sửa nhiều lần. Nguyên tắc an toàn: mọi sửa đổi phải bằng văn bản, do người có thẩm quyền ký, và hợp đồng nên ghi rõ thư điện tử hay tin nhắn không có giá trị sửa đổi hợp đồng. Thiếu câu này, một chuỗi tin nhắn đồng ý "giảm phần chia năm nay" có thể bị viện dẫn như thoả thuận sửa đổi.
Phụ lục nên dùng cho thông tin kỹ thuật, thay đổi định kỳ: danh mục tài sản góp kèm biên bản định giá, kế hoạch kinh doanh năm, ngân sách, danh sách nhân sự chủ chốt, quy chế hoạt động của ban điều phối. Thân hợp đồng giữ những nguyên tắc ít thay đổi. Cần có điều khoản về thứ tự ưu tiên khi thân hợp đồng và phụ lục mâu thuẫn.
Khi có bên nước ngoài, hợp đồng thường lập song ngữ; phải ghi bản ngôn ngữ nào được ưu tiên khi có khác biệt. Lưu bản gốc có chữ ký ở nơi an toàn, đánh số phiên bản cho mọi bản nháp, và giữ hồ sơ đàm phán (biên bản họp, thư trao đổi): khi phát sinh tranh chấp về cách hiểu điều khoản, hồ sơ này giúp chứng minh ý chí thật của các bên lúc ký.
Câu hỏi thường gặp
Hợp đồng hợp tác kinh doanh có bắt buộc công chứng không?
Nguyên tắc chung là không bắt buộc, trừ khi luật chuyên ngành yêu cầu với loại tài sản hoặc giao dịch cụ thể, ví dụ một số giao dịch liên quan quyền sử dụng đất. Dù không bắt buộc, công chứng hoặc chứng thực chữ ký có thể hữu ích về chứng cứ. Nên kiểm quy định hiện hành theo loại tài sản góp.
Hai hộ kinh doanh hoặc hai cá nhân có ký hợp đồng hợp tác được không?
Được. Bộ luật Dân sự cho phép cá nhân và pháp nhân ký hợp đồng hợp tác. Điều cần lưu ý là cá nhân chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, và việc kê khai thuế cho thu nhập từ hợp tác phải làm theo quy định áp dụng cho cá nhân, hộ kinh doanh. Nên hỏi kế toán trước khi ký.
Khi nào nên chọn lập công ty chung thay vì ký hợp đồng hợp tác?
Khi dự án dài hạn, cần huy động thêm vốn, cần thương hiệu riêng hoặc các bên muốn tách bạch rủi ro pháp lý, lập công ty thường phù hợp hơn. Hợp đồng hợp tác hợp với dự án có thời hạn, phạm vi hẹp, cần triển khai nhanh. Chuyên mục các hình thức hợp tác có bài so sánh chi tiết.
Có nên đưa kế hoạch kinh doanh vào hợp đồng hợp tác không?
Nên đưa vào phụ lục, không vào thân hợp đồng. Kế hoạch là căn cứ để đo việc thực hiện, ví dụ mốc xây xưởng hay doanh thu tối thiểu làm điều kiện rút lui. Nhưng cần ghi rõ chỉ tiêu nào ràng buộc, chỉ tiêu nào chỉ mang tính tham khảo, tránh bị coi mọi chênh lệch so với kế hoạch là vi phạm.
Hợp đồng hợp tác có cần đăng ký với cơ quan nhà nước không?
Hợp tác giữa các bên trong nước thường không cần đăng ký riêng, trừ thủ tục chuyên ngành. BCC có nhà đầu tư nước ngoài thì gắn với thủ tục đầu tư theo Luật Đầu tư. Do yêu cầu có thể thay đổi, nên kiểm trên cổng thông tin của cơ quan đăng ký đầu tư hoặc hỏi luật sư.
Một bên bị sáp nhập hoặc đổi chủ thì hợp đồng hợp tác có còn hiệu lực không?
Về nguyên tắc pháp nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ, nên hợp đồng vẫn có thể tiếp tục. Rủi ro là đối tác mới có thể là đối thủ cạnh tranh của bạn. Vì vậy nên có điều khoản thay đổi quyền kiểm soát cho phép bên còn lại chấm dứt hoặc mua lại phần của bên kia.