Điều khoản góp vốn trong hợp đồng hợp tác phải trả lời bốn câu: mỗi bên góp tài sản gì, trị giá bao nhiêu và ai định giá, góp khi nào và theo điều kiện gì, góp chậm hay không góp thì hậu quả tự động là gì. Thiếu một trong bốn câu này, tỷ lệ chia lợi nhuận và quyền biểu quyết dựa trên vốn góp đều đứng trên nền yếu.
Điều khoản này phức tạp hơn ở công ty vì hợp tác không có pháp nhân để nhận tài sản. Tài sản góp vẫn thuộc bên góp và chỉ được đưa vào sử dụng, hay trở thành sở hữu chung của các bên? Câu trả lời ảnh hưởng tới rủi ro khi một bên bị kiện nợ, tới thuế và tới việc chia tài sản khi kết thúc.
Bài viết đi qua từng loại tài sản góp, các phương pháp định giá, vấn đề quyền sở hữu, tiến độ góp, chế tài khi góp chậm và cơ chế góp bổ sung, kèm một ví dụ giả định. Quy định viện dẫn cần kiểm theo văn bản hiện hành.
Các loại tài sản góp và rủi ro riêng của từng loại
Tiền là loại tài sản góp đơn giản nhất. Những loại còn lại đều cần thêm điều khoản riêng, vì giá trị khó xác định hoặc quyền sở hữu khó chuyển.
| Loại tài sản | Vấn đề định giá | Rủi ro pháp lý và vận hành | Điều khoản nên có |
|---|---|---|---|
| Tiền | Không có | Góp chậm, góp từng đợt không đúng hạn | Tài khoản nhận, lịch góp, lãi chậm trả |
| Quyền sử dụng đất, nhà xưởng | Giá thị trường biến động, giá theo bảng giá khác giá thực | Điều kiện chuyển quyền, thời hạn sử dụng đất, thế chấp đang tồn tại | Hình thức góp (chuyển quyền hay cho thuê), xử lý khi đất bị thu hồi |
| Máy móc, thiết bị | Khấu hao, công nghệ lạc hậu | Bảo trì, hư hỏng, bảo hiểm | Biên bản bàn giao tình trạng, ai chịu sửa chữa |
| Nhãn hiệu, sáng chế, phần mềm | Rất khó định giá, phụ thuộc kỳ vọng doanh thu | Văn bằng còn hiệu lực không, có tranh chấp không | Chuyển nhượng hay cấp quyền sử dụng, phạm vi, thời hạn |
| Bí quyết, quan hệ khách hàng | Gần như không đo được trực tiếp | Khó chứng minh đã góp | Định nghĩa bằng kết quả đo được, góp theo mốc |
| Công sức quản lý, vận hành | Tranh cãi giữa giá thị trường và kỳ vọng | Người góp công rời đi giữa chừng | Quy đổi theo thời gian, cơ chế hưởng dần |
Hai dòng cuối gây tranh chấp nhiều nhất trong hợp tác giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một bên bỏ tiền, một bên "bỏ công và quan hệ"; ba năm sau bên bỏ tiền thấy công sức kia không đáng tỷ lệ đã hứa. Cách phòng ngừa là đừng định giá công sức một lần ở thời điểm ký, mà gắn nó với thời gian làm việc và kết quả đạt được.
Định giá tài sản không phải tiền: ba cách và chỗ yếu của mỗi cách
Cách thứ nhất là các bên tự thoả thuận giá trị. Nhanh, rẻ, nhưng dễ sai khi một bên hiểu tài sản hơn bên kia. Nghiên cứu về hiệu ứng sở hữu (endowment effect), được Kahneman, Knetsch và Thaler tổng hợp trong bài trên Journal of Political Economy năm 1990, cho thấy người ta thường định giá thứ mình đang sở hữu cao hơn mức họ sẵn sàng trả để mua chính thứ đó. Bên góp đất hay góp thương hiệu gần như luôn thấy tài sản của mình bị định giá thấp.
Cách thứ hai là thuê tổ chức thẩm định giá độc lập. Khách quan hơn và để lại hồ sơ bảo vệ khi có tranh chấp hoặc khi cơ quan thuế xem xét. Nhược điểm là chi phí, và với tài sản vô hình, kết quả phụ thuộc nhiều vào giả định doanh thu tương lai mà chính các bên cung cấp. Nên thống nhất trước phương pháp (so sánh thị trường, chi phí thay thế, thu nhập chiết khấu) và chọn đơn vị thẩm định chung.
Cách thứ ba là định giá có điều chỉnh sau: chấp nhận một giá trị tạm, rồi điều chỉnh theo kết quả thực tế. Ví dụ, nhãn hiệu được ghi nhận tạm một giá trị và sẽ điều chỉnh tăng hoặc giảm sau hai năm dựa trên doanh thu thực tế từ kênh bán hàng gắn nhãn hiệu đó. Cách này giảm tranh cãi lúc ký, nhưng đòi hỏi định nghĩa chỉ số đo rất chặt.
Dù chọn cách nào, hợp đồng nên ghi giá trị bằng tiền, ngày định giá, phương pháp, người định giá và kèm biên bản làm phụ lục. Với tài sản cần đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn còn phải tuân thủ thủ tục chuyển quyền theo luật chuyên ngành.
Tài sản góp thuộc về ai khi không lập công ty
Đây là câu hỏi mà nhiều hợp đồng hợp tác bỏ qua. Ở công ty, tài sản góp vốn chuyển quyền sở hữu sang công ty. Ở hợp đồng hợp tác, có ít nhất ba mô hình, và hợp đồng phải chọn rõ một mô hình cho từng tài sản.
Mô hình thứ nhất: bên góp vẫn sở hữu, chỉ cho hợp tác sử dụng. Thực chất gần với cho thuê hay cho mượn. Ưu điểm là khi kết thúc, tài sản quay về chủ cũ rõ ràng. Rủi ro là nếu bên góp bị chủ nợ kê biên, tài sản đang dùng cho dự án có thể bị ảnh hưởng.
Mô hình thứ hai: tài sản trở thành sở hữu chung theo phần của các bên. Bộ luật Dân sự 2015 tiếp cận tài sản trong hợp đồng hợp tác theo hướng này: tài sản do các thành viên đóng góp, cùng tạo lập là tài sản chung theo phần, trừ khi có thoả thuận khác. Ưu điểm là phản ánh đúng tinh thần cùng góp; nhược điểm là chia tài sản khi kết thúc phức tạp, nhất là với tài sản không chia nhỏ được như nhà xưởng.
Mô hình thứ ba: tài sản đứng tên một bên làm đại diện, các bên khác có quyền lợi theo hợp đồng. Hay gặp khi tài sản cần đứng tên một chủ thể để đăng ký. Rủi ro lớn nhất thuộc về bên không đứng tên, vì quyền của họ chỉ là quyền theo hợp đồng chứ không phải quyền sở hữu được đăng ký. Nên có biện pháp bảo đảm như cam kết không chuyển nhượng, không thế chấp khi chưa có đồng ý bằng văn bản.
Tiến độ góp vốn và điều kiện tiên quyết
Góp toàn bộ vốn ngay khi ký thường không hợp lý với dự án nhiều giai đoạn. Cấu trúc góp theo mốc giúp giảm rủi ro cho cả hai phía. Một lịch góp được viết tốt thường có các thành phần sau.
- Danh sách đợt góp, mỗi đợt ghi số tiền hoặc tài sản, thời hạn chót và phương thức (chuyển khoản vào tài khoản nào, bàn giao tại đâu).
- Điều kiện tiên quyết cho từng đợt: ví dụ đợt hai chỉ phải góp khi đã có giấy phép xây dựng, hoặc khi bên kia đã hoàn thành góp đợt một. Điều kiện phải kiểm chứng được bằng giấy tờ, không phải bằng nhận định.
- Thủ tục xác nhận đã góp: biên bản bàn giao, chứng từ ngân hàng, xác nhận của ban điều phối. Không có xác nhận, tranh chấp về việc đã góp hay chưa sẽ rất khó giải quyết.
- Quyền tạm hoãn góp khi bên kia vi phạm: nếu bên B chưa góp đợt một, bên A có được hoãn đợt hai không. Thiếu điều này, bên tuân thủ phải tiếp tục bỏ tiền vào dự án mà đối tác đã ngừng đóng góp.
- Thời hạn ân hạn ngắn, ví dụ mười ngày làm việc, cho những chậm trễ do thủ tục ngân hàng, trước khi chế tài được kích hoạt.
Chế tài khi góp chậm hoặc không góp
Lãi chậm trả. Phù hợp với chậm trễ ngắn. Hợp đồng nên ghi mức lãi hoặc cách xác định mức lãi và thời điểm bắt đầu tính. Kiểm giới hạn lãi suất theo quy định hiện hành.
Điều chỉnh tỷ lệ (pha loãng). Bên góp đủ được tính tỷ lệ cao hơn theo phần thực góp. Đây là chế tài tự động, không cần kiện, nên có sức răn đe. Cần công thức rõ: tỷ lệ mới bằng phần thực góp của mỗi bên chia tổng vốn thực góp, hoặc công thức phạt nặng hơn nếu các bên muốn răn đe.
Quyền góp thay. Bên tuân thủ được góp thay phần thiếu, và phần góp thay được coi là khoản vay có lãi cho bên vi phạm, hoặc chuyển thành tỷ lệ của bên góp thay. Giữ cho dự án không bị đình trệ.
Tạm đình chỉ quyền. Bên chưa góp đủ bị tạm dừng quyền biểu quyết hoặc quyền nhận lợi nhuận cho đến khi góp đủ. Tránh tình trạng bên chưa góp vẫn phủ quyết quyết định của bên đã góp.
Quyền mua lại và chấm dứt. Khi chậm quá một thời hạn dài, bên tuân thủ có quyền mua lại phần quyền lợi của bên vi phạm với giá chiết khấu đã thoả thuận, hoặc chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường. Đây là chế tài cuối cùng, nên có thông báo trước và thời hạn khắc phục.
Góp vốn bổ sung và một ví dụ giả định
Dự án hiếm khi tốn đúng ngân sách ban đầu. Hợp đồng cần quy định khi nào phát sinh nghĩa vụ góp bổ sung (theo nghị quyết của ban điều phối với tỷ lệ biểu quyết bao nhiêu, hay chỉ khi tất cả đồng ý), mức trần góp bổ sung mỗi bên phải chịu, và hậu quả khi một bên từ chối góp bổ sung. Nếu góp bổ sung là bắt buộc mà không có trần, bên yếu tài chính có thể bị ép rút khỏi dự án; nếu hoàn toàn tự nguyện, dự án có thể chết vì thiếu vốn.
Ví dụ giả định: A và B hợp tác mở xưởng, vốn cam kết mười tỷ đồng, A góp sáu tỷ, B góp bốn tỷ, tỷ lệ 60/40. Năm thứ hai dự án cần thêm hai tỷ. Hợp đồng quy định góp bổ sung theo tỷ lệ hiện hành, bên không góp thì bên kia được góp thay và tỷ lệ tính lại theo vốn thực góp. A góp đủ phần mình là 1,2 tỷ và góp thay 0,8 tỷ của B. Vốn thực góp: A 8 tỷ, B 4 tỷ trên tổng 12 tỷ. Tỷ lệ mới xấp xỉ 66,7/33,3.
Ví dụ cho thấy hai điều. Thứ nhất, công thức đơn giản vẫn làm B mất khoảng sáu điểm phần trăm, đủ để B cân nhắc nghiêm túc trước khi từ chối. Thứ hai, công thức này coi mọi đồng vốn có giá trị ngang nhau bất kể thời điểm góp; nếu dự án đã tăng giá trị đáng kể từ năm đầu, việc góp ở giá gốc có lợi cho bên góp sau. Một số hợp đồng điều chỉnh bằng cách định giá lại dự án trước mỗi đợt góp bổ sung, đổi lại chi phí và tranh cãi về định giá.
Câu hỏi thường gặp
Góp vốn bằng công sức có được pháp luật thừa nhận không?
Trong hợp đồng hợp tác theo Bộ luật Dân sự, các bên có thể đóng góp tài sản và công sức. Vấn đề không nằm ở việc có được thừa nhận hay không mà ở định giá và chứng minh. Nên quy đổi công sức thành giá trị theo thời gian làm việc và kết quả, ghi rõ trong phụ lục.
Có nên để tỷ lệ chia lợi nhuận khác tỷ lệ góp vốn không?
Có thể và thường hợp lý khi một bên đóng góp những thứ khó quy ra vốn như vận hành, công nghệ, kênh bán hàng. Điều cần làm là ghi rõ lý do và điều kiện, ví dụ tỷ lệ ưu đãi chỉ áp dụng khi bên vận hành vẫn còn trực tiếp quản lý dự án.
Góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong BCC cần lưu ý gì?
Cần kiểm loại đất, thời hạn sử dụng, mục đích được phép, tình trạng thế chấp và quy hoạch. Hình thức góp, chuyển quyền hay chỉ cho sử dụng, ảnh hưởng đến thủ tục và thuế. Quy định đất đai thay đổi khá thường xuyên, nên tham khảo luật sư chuyên về đất đai và kiểm văn bản hiện hành.
Nếu tài sản góp bị hư hỏng hoặc mất giá thì ai chịu?
Tuỳ mô hình sở hữu đã chọn. Nếu tài sản thuộc sở hữu chung, rủi ro thường chia theo phần; nếu bên góp vẫn sở hữu, bên đó chịu rủi ro trừ khi hư hỏng do lỗi vận hành. Hợp đồng nên quy định bảo hiểm tài sản, ai mua và ai hưởng tiền bồi thường.
Có thể rút một phần vốn đã góp giữa chừng không?
Chỉ khi hợp đồng cho phép. Rút vốn làm thay đổi năng lực của dự án và tỷ lệ của các bên, nên thường cần đồng thuận và có điều kiện như dự án đã đạt mức tiền mặt tối thiểu. Không có điều khoản, đơn phương rút vốn có thể bị coi là vi phạm.
Có nên yêu cầu bảo lãnh ngân hàng cho nghĩa vụ góp vốn không?
Với đối tác chưa quen hoặc giá trị góp lớn, bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ góp vốn hay ký quỹ là biện pháp hiệu quả, vì nó biến chế tài từ kiện tụng thành rút tiền bảo lãnh. Chi phí bảo lãnh nên được thoả thuận ai chịu ngay từ đầu.